Chương 7: Phong cách Đức
“Người bạn tốt biết các câu chuyện cuộc đời
bạn nhưng người bạn tuyệt vời giúp bạn viết nên chúng”
“A good friend knows all about your stories
but the best friend helped you write them”
---
Cuối tháng 9, giấy tờ về đến Việt
nam. Thủ tục thông thạo, hồ sơ đầy đủ. Một tuần sau khi nộp tôi được gọi lên phỏng
vấn. Tôi yêu cầu được nói với nhân viên người Đức bẳng Tiếng Anh.
Cuộc phỏng vấn diễn ra thuận lợi và
nhanh chóng. Tình cờ anh biết về Tập đoàn trước đây tôi làm ở Singapore. Anh
còn biết cả địa chỉ chi nhánh của họ tại Berlin vì có người quen làm tại đó.
Một tuần sau tôi lấy được Thị thực. Sẵn
sàng lên đường vào giữa tháng 11.
---
Thật bất ngờ khi tôi nhận được lời
mời đến Hamburg chơi từ một chị khách hàng cũ. Tôi lên www.banh.de đặt vé tàu với
giá chỉ hơn 100 euro. Mức giá đặc biệt khi đặt vé trước nhiều ngày qua mạng.
(Nếu bạn biết cách tìm và đặt xa ngày bạn có thể mua vé giảm 50%-70%. Ở
Đức có loại vé tàu bán theo bang. Bạn có thể đi từ một thành phố đến thành phố
gần nhất hoặc xa nhất cùng bang với cùng một mức giá. Đặt qua mạng và tại máy tự
động rẻ hơn mua tại quầy. Đặt tại quầy có lợi thế là nhân viên nói được tiếng
Anh. Họ sẽ in hành trình, giá cả theo từng lựa chọn để bạn kiểm tra, thắc mắc
trước khi quyết định mua).
Trước ngày tôi đến, Margerita cẩn
thận gửi toàn bộ thông tin liên quan đến cách đi, sơ đồ, thông tin có liên quan
về tàu điện ngầm (U) và tàu điện (S) trong vùng.
Rời nhà ga Hamburg, tôi theo chỉ
dẫn trên bảng điện tử để tìm đường U. Sau hơn 20 phút ngồi U1 và đổi tàu một lần,
tôi đã có mặt ở ga cần đến. Tôi vừa bước ra ngoài đã thấy một người phụ nữ
Trung niên đi về phía tôi hỏi:
“Xin lỗi, cô có phải là Thủy không?”
Chúng tôi vui mừng bắt tay nhau.
Đây là lần gặp mặt đầu tiên (khi trước chúng
tôi chỉ giao dịch qua thư điện tử).
Cảm giác đầu tiên, Margerita là người
thân thiện. Chịvừa giải thích vừa giúp tôi mang đồ lên xe ô tô đang đậu gần đó.
“Năm phút nữa chúng ta sẽ về đến
nhà tôi. Tôi sẽ giải thích cho cô hiểu vì sao tôi không ra ga chính đón. Hy vọng
cô không thấy bất tiện”
Xe đến cửa nhà chị lúc 22:30. Jens,
chồng Margerita, ra mở cửa, vừa bắt tay vừa nở một nụ cười dễ mến. Tôi thấy mình
thật may mắn. Sự chào đón niềm nở của cả hai vợ chồng đã xoá tan mọi ngại ngùng.
Margerita dẫn tôi xuống phòng.
Jens hâm cho tôi một cốc sữa và chuẩn bị một suất bánh mỳ kẹp thịt (tất nhiên sau khi hỏi sở thích của tôi).
Cảm giác ấm áp như đang ở nhà người thân.
Tôi thành thật nói:
“Cảm ơn anh chị. Em đã từng nghĩ
người Đức rất lạnh lùng” - Tôi vừa đùa vừa cười.
Họ cũng cười.
Họ hỏi tôi về chuyến đi một cách
chân thành. Có vẻ vui khi tôi nói chuyện cởi mở không hề khách sáo với họ. Tôi
có cảm giác như chúng tôi đã là bạn từ lâu. Jens không nói tiếng Anh tốt bằng vợ
nhưng anh nghe và hiểu hết. Anh bảo:
“Tiếng Anh của tôi không tốt
nhưng nếu cô và vợ tôi nói xấu, tôi biết ngay”.
Ba chúng tôi cùng cười vang.
Đã nửa đêm. Tôi xin phép về phòng.
Margerita chỉ thêm các khu vực khác trong nhà. Chị đưa tôi xuống phòng lần nữa,
lấy ga, gối, chăn… Tất cả đã được giặt, là cẩn thẩn.
Căn phòng không tiện nghi nhưng
thoái mái. Dưới này tách biệt hẳn với 3 phòng của cả nhà. Họ có hai cậu con
trai, một 16 và một 18 tuổi hiện đang đi du lịch. Tôi bật máy tính làm việc một
lúc (khi đó mới khoảng sáu giờ chiều ở Việt
nam). Vài tiếng sau tôi lên giường, ngon lành đi vào giấc ngủ.
---
Ngày thứ hai, tôi tỉnh dậy lên
nhà ăn lúc 08:30 như đã hẹn với Margerita. Jens đi làm từ sớm. Chúng tôi bày đồ
ra bàn ăn ngoài sân. Chỉ có hai người mà Margerita vẫn xếp đủ như bữa ăn gia
đình. Mỗi người một đĩa, một bộ dao, dĩa, bánh mỳ, bơ, phomat, xa lát, sữa, cà
phê. Hôm nay chị dành buổi sáng ở nhà với tôi sau đó sẽ đưa tôi đến một số điểm
“MUST SEE” (phải thăm) trong thành phố.
Chúng tôi vừa ăn vừa đàm đạo về
nhiều chuyện khác nhau giữa hai nền văn hóa Á Đông và Tây Âu. Chị rất tâm đắc với
chuyến đi Trung Quốc gần đây của gia đình và nói rằng nhất định sẽ trở lại một
ngày gần đây. Tôi hơi buồn khi nghe chị nói dù cũng rất muốn trở lại Việt nam
thăm tôi, thăm các điểm chưa đi lần trước nhưng Trung quốc hấp dẫn hơn.
Gia đình chị luôn cố đi thăm các nước
Châu Á mới, ngoài các kỳ nghỉ trong EU. Cơ hội để tôi gặp lại anh chị tại Việt
nam sẽ không có nhiều. Trung quốc rộng lớn vậy. Nhiều nước Châu Á khác dịch vụ
cũng tốt hơn.
Quan niệm về hưởng thụ cuộc sống
của phương Tây là vậy. Họ làm việc chăm chỉ cả năm. Dành quỹ du lịch riêng và
lên kế hoạch từ rất sớm. Họ dễ dàng đi du lịch khắp nơi trên thế giới với quốc
tịch của mình. Người Việt nam đi đâu cũng khó khăn. Ngoài rào cản về thị thực
thì nhiều tai tiếng là do chính chúng ta tự tạo nên. Nhiều người lợi dụng kẽ hở
để ở lại phi pháp, khuấy đảo xã hội phương Tây bằng các thói hư tật xấu. Để những
người muốn đi du lịch thực thụ như chúng tôi gặp nhiều khó khăn và định kiến xấu.
Ăn uống, nghỉ ngơi xong Margerita
và tôi ra khỏi nhà. Chị đèo tôi bằng xe đạp vì chị nói đến ga tàu hai chúng tôi
sẽ để lại ở ga đi tàu điện vào trung tâm. Tiện hơn và thăm được nhiều hơn đi bằng
ô tô.
Đầu tiên chị dẫn tôi đến quán ăn
kiêm siêu thị Châu á của một gia đình Việt nam tại trung tâm thành phố. Chị chỉ
cho tôi những món đồ chị hay mua về nấu cho gia đình. Gia đình chị rất thích đồ
ăn Châu á nói chung, đồ việt nam nói riêng. Thỉnh thoảng nhà chị ra quán này để
thưởng thức những món mà chị không biết nấu.
Chủ quán nhìn thấy chị chào ngay
bằng tiếng Đức rất trơn tru. Thái độ vô cùng niềm nở. Khi thấy tôi, được giới
thiệu là từ Việt Nam đến họ chỉ gật đầu chào. Không nói một câu tiếng Việt nào.
Thật buồn! Người Việt nam chúng
ta ở đâu cũng tự kỳ thị và đối xử với nhau không ra gì. Tôi không nói gì, giục Margerita
đi đến các điểm thăm chính. Tôi thấy ngượng thay cho họ. Có lẽ Margerita cũng cảm
nhận thấy sự ghẻ lạnh giữa những người đồng hương nơi phương xa, chị theo tôi
ra cửa ngay.
Margerita dẫn tôi đi một vòng bằng
tàu điện. Chị dẫn tôi vào quầy thông tin lấy bản đồ tiếng Anh, ra T-mobile mua thẻ
internet. Ở Đức không phải nơi nào cũng nói tiếng Anh. Tại các cửa hàng lớn, ở
thành phố lớn như Hamburg cũng hiếm (Hamburg
là thành phố lớn thứ hai tại Đức và lớn thứ tám tại Cộng Đồng Châu Âu-EU).
Sau một hồi giải thích, nhân viên cửa hàng cũng in cho tôi được loại thẻ tôi cần.
Thẻ tháng đã hết, chỉ còn loại theo ngày nên giá khá đắt.
Chúng tôi chia tay nhau vào lúc gần
trưa. Margerita cần đi mua đồ đạc cho gia đình và đồ làm BBQ tối hôm sau. Chị dặn
lại các tuyến xe buýt, tàu điện để đến các điểm thăm và nói rằng tôi có thể về giờ
nào tùy ý nhưng không nên quá muộn để đảm bảo an toàn.
Còn lại một mình, tôi đi thăm Nhà
Thờ Lớn, Tòa Thị Chính, Quảng trường. Tôi dừng chân ven Hồ ngắm thiên nga, vịt
trời và bồ câu. Nhiều người dân thân thiện vừa ăn bánh mỳ vừa ném cho chúng.
Chiều tối, sau một hồi lang thang
phố xá, ăn qua loa, tôi bắt tàu về nhà Margerita. Hai vợ chồng chị đang ngồi
phòng khách. Theo lịch trình Margerita sắp xếp, bữa tối nay tôi tự túc, tối hôm
sau họ sẽ mời tôi BBQ tại nhà, ngày sau nữa đi biển, dã ngoại bằng xe đạp. Họ nói
thẳng ngay từ đầu tôi có thể ở bốn ngày, bốn đêm. Sau đó gia đình họ có kế hoạch
riêng nhân dịp sinh nhật thứ bảy mươi của mẹ Margerita.
Tôi làm cho mình một cốc sữa ấm, nói
chuyện một lúc với hai vợ chồng rồi xuống phòng làm việc.
Sáng ngày thứ ba, hai vợ chồng chị
đi làm từ sớm. Hai cậu con trai của họ đứa thì chưa về, đứa thì đang ngủ. Tôi
lên bếp tự làm bánh mỳ, hâm sữa mang ra ngoài vườn, vừa ăn vừa ngắm cảnh.
Nhà ở ngoại ô tuy hơi xa trung
tâm nhưng không gian thoáng đãng, không khí trong lành. Ở Đức phương tiện công
cộng chuẩn mực, chi phí thấp so với mức sống. Tôi đi cả ngày trời, đổi các loại
phương tiện, chỉ hết có 6,2 Euro. Nếu mua vé tháng chỉ mất 40 Euro, có thể đi
nhiều lần trong ngày, nhiều tuyến, nhiều loại phương tiện trong cả tháng trời.
Quá rẻ! Ở Việt nam đi taxi hay xe ôm khắp thành phố cả tháng thì lương vài triệu
không đủ tiêu. Phương tiện công cộng chỉ có xe buýt với chất lượng quá kém,
không an toàn.
Tôi bắt tàu điện ra trung tâm. Tối
qua nói chuyện với vợ chồng Margerita mới biết cái góc Hồ Binnenalster
tôi đi chỉ là một góc rất nhỏ của Hamburg. Hồ Außenalster mới là Hồ lớn nhất bao gồm hai hồ nhân tạo bao bọc bởi
sông Alster. Đi bộ quanh một Hồ nhanh cũng mất cả tiếng. Tôi quyết tâm đi hết một
vòng Hồ vì tất cả các đoạn đường đều có thể đi sát mặt hồ, không phải đi vòng
qua khu dân cư.
Tôi dừng nhiều lần dọc đường, phần
vì muốn ngắm cảnh nhưng đôi khi cũng vì quá mỏi. Xung quanh Hồ là một công viên
rộng lớn. Nhiều người đi dạo mang theo trẻ con và chó. Đa phần vào giờ làm việc
là các ông bà già đã về hưu, phụ nữ đang nuôi con nhỏ. Họ đi từng nhóm trò chuyện
vui vẻ. Chó các loại chạy tung tăng đầy mãn nguyện.
Có người bảo: ở Đức, nhất trẻ em,
nhì phụ nữ, ba là chó, thứ tư mới đến đàn ông (sau này một người bạn Đức bảo đó là quan niệm đã cũ. Thời nay thứ tự
thành: thứ nhất là chó, nhì trẻ em, ba phụ nữ, thứ tư đàn ông! Dù gì phụ nữ vẫn
được thứ ba. Nếu tôi sang đây định cư thì lên mấy bậc so với ở Việt nam rồi).
Phụ nữ và trẻ em ở đây luôn được
ưu tiên nhất tại các nơi công cộng. Chó được chủ mang đi khắp nơi, dạo công
viên, nhà hàng, mua sắm. Nhiều người giàu đi du lịch mua vé máy bay hạng thương
gia, đặt khách sạn năm sao, thuê phục vụ riêng cho chó. Bệnh viện Thú Y thì
không khác gì khách sạn cao cấp, tiện nghi và dịch vụ tốt hơn rất nhiều bệnh viện
phục vụ người dân ở Việt nam.
(Ở Việt nam thời nay cũng đang trào lưu nuôi thú cưng, đặc biệt chó cảnh.
Nếu bạn vào công viên thì thấy nhiều người độc thân dẫn theo chó đi dạo. Họ yêu
thương và cưng nựng những chú chó không khác nào các bà mẹ vỗ về con nhỏ. Các
nhà hàng, cửa hiệu chưa thân thiện được như phương Tây và Mỹ nhưng sớm muộn gì
cũng sẽ thay đổi theo thời cuộc)
Tôi thả mình nằm dài xuống bãi cỏ,
dưới một tán cây rộng. Tôi thích nhất cảm giác nằm trên bãi cỏ, nhìn lên bầu trời
qua những tán lá.
Xung quanh tôi không có ai. Bất
chợt thấy buồn. Cảm giác lẻ loi bỗng xâm chiếm trái tim. Giá như giờ này có ai
đó bên tôi, tay trong tay cùng đi dạo. Tôi đưa máy lên tự chụp mình ở các tư thế.
Gắng nở nụ cười tươi để trấn an.
Nghỉ ngơi một lúc, tôi tiếp tục
đi. Đi mãi, đi mãi. Đã 17:00 giờ mà vẫn chưa hết vòng Hồ. Dễ phải hơn ba tiếng
rồi. Tôi dừng chụp ảnh, ngắm cảnh và nghỉ ngơi quá lâu. Tối nay tôi hẹn vợ chồng
Margerita ăn tối lúc 19:30. Tôi nhanh chóng rảo bước kết thúc vòng Hồ. Lòng ước
sao có cái xe đạp đi cho nhanh và đỡ mỏi.
Trên Hồ, thuyền buồm nhiều vô số
kể. Người Đức có thu nhập cao có thú chơi thuyền buồm. Mỗi người, mỗi nhà thường
có ít nhất một chiếc thuyền buồm riêng. Mỗi buổi chiều hoặc ngày cuối tuần họ
đi hóng gió trên Hồ hay biển.
Jens rất mê thuyền. Trước đây anh
có một thuyền buồm lớn nhưng giờ đã bán. Gần đây anh mới mua một chiếc thuyền
câu cá, thỉnh thoảng cuối tuần lại về nhà mẹ để đi câu với người cha đã hơn 80
tuổi. Anh vốn xuất thân từ vùng biển Baltic cách nhà hiện tại hơn 100km.
Tôi về nhà thì Margerita đang lúi
húi trong bếp. Tôi vội cất đồ vào phụ chị. Chị đang làm sa lát, cắt thịt gà,
xúc xích, chuẩn bị đồ nướng. Jens lấy bát đĩa, kê bàn ngoài hiên. Cậu con trai
thứ hai mãi đến khi thức ăn sẵn sàng mới chịu xuống.
Ở nhà họ đã 3 hôm mà hôm nay tôi
mới gặp cậu. Trông cậu rất xinh trai. Marco, tên cậu bé 16 tuổi, rất mê đàn,
hát. Cậu tham gia một ban nhạc trong đó cậu vừa là ca sỹ, nhạc sỹ viết lời bài
hát vừa có thể chơi ghi ta. Tối đó cậu rủ thêm một người bạn trong ban nhạc đến
tập.
Hai cậu bé ăn uống qua loa rồi dắt
nhau lên phòng đàn hát. Chúng tôi ngồi dưới vườn cũng nghe thấy tiếng hát trong
trẻo và ngọt ngào tầng trên vọng xuống. Margerita nói (nếu tôi thích) chị sẽ bảo Marco hát cho nghe một bài. Nhưng thấy cậu
có vẻ miễn cưỡng (có lẽ vì lần đầu tiên
trong gia đình cậu có người nước ngoài lại là người Việt nam đến sống cùng)
nên tôi nói cứ để cậu tự nhiên.
Ba chúng tôi vừa ăn vừa trò chuyện.
Jens rất thích làm vườn. Sáng nào anh cũng ra vườn ngắm và đếm từng chồi non. Anh
có thể chỉ từng chồi non hay nụ hoa mới nhú trong ngày. Anh say sưa nói về các
loại cây. Vườn nhà anh tuy chưa có nhiều cây đâm hoa, kết trái vì gia đình anh mới
về nhưng dường như mọi loại cây trong vườn đều gây cảm hứng rất mạnh đối với
anh. Anh chỉ cho tôi vài nụ hồng đang nhú, vài chồi non của loại cây khác mà
tôi không nhớ tên.
Margerita không thích vườn tược
nhưng mê bếp núc. Chị thích làm bánh và nấu các món ăn lạ.
Bữa ăn hôm nay đơn giản nhưng khá
là ngon. Hai anh chị hài lòng khi tôi dễ thích nghi và hòa nhập. Họ nói rằng
trước khi tôi sang đây họ rất lo tôi không ăn được đồ Âu, không hợp phong cách
gia đình họ.
Ăn tối xong, ba chúng tôi vui vẻ
cùng dọn đồ. Jens luôn sẵn lòng dọn bàn hoặc giúp chị việc bếp núc mỗi khi chị
nấu nướng. Người Đức không phải tối nào cũng nấu đồ nóng. Họ thường chỉ nấu vào
cuối tuần, khi có khách, hay Lễ, Tết. Còn lại đa phần ăn đồ nguội, bánh mỳ.
Dọn xong, Jens ra phòng khách xem
bóng đá, tôi và Margerita ở lại trong bếp chuẩn bị bánh cho buổi dã ngoại ngày
mai. Thực ra tôi chỉ đứng xem. Tôi chưa bao giờ tự làm bánh tại nhà.
Nguyên liệu đơn giản: bột mỳ, bơ,
trứng gà, một loại rau chua chua (ở Việt
nam không có) thay cho táo. Công thức và cách làm thì giống bánh táo. Lần nào đến nhà mẹ chồng Margerita cũng làm
bánh. Mẹ chồng chị thích ăn và làm bánh. Họ thường làm cho nhau ăn và trao đổi
kinh nghiệm với nhau về món bánh mới. Họ tự làm cả bánh ga tô mừng sinh nhật vì
đặt ở cửa hàng đắt và phải đặt xa ngày.
---
Sau bữa sáng đơn giản, chúng tôi
đi ô tô đến nhà bố mẹ Jens ở biển Baltic. Marco đang ngủ. Cậu từ chối tham gia
vì không có bạn cùng trang lứa. Người Đức họ rất tôn trọng quyền tự do cá nhân
của con cái. Họ không bao giờ ép buộc mà thường hỏi xem con cái họ có muốn tham
gia không. Mọi người đều có thể làm theo sở thích của mình.
Tôi hoàn toàn nhất
trí. Tôi không thích ép buộc ai. Đi chơi bị ép buộc còn gì thú vị. Thực ra gần
đây Marco và ban nhạc đang phải tập dượt để ra mắt album mới. Họ làm việc rất
khuya tại nhà một thành viên trong nhóm nên ban ngày thường dành thời gian ngủ
bù.
Alexandro, cậu con trai cả, hơn
Marco hai tuổi, vẫn đang đi du lịch Bắc Mỹ cùng bạn gái. Bạn gái kém cậu hai tuổi
và họ đã yêu nhau được gần hai năm. Margerita và Jens đều cho rằng như thế là
quá sớm.
“Nhưng cũng phải chấp nhận thôi.
Thời đại mới mà. Thà mình cho phép để còn biết con mình đang làm gì ở đâu. Chứ
cấm đoán bọn trẻ nổi loạn thì còn mệt hơn” – Margerita tâm sự.
Tôi nghĩ về tuổi trẻ của mình. Ở
độ tuổi đó tôi chỉ biết quanh quẩn đi học, về nhà bán hàng kiếm tiền phụ bố mẹ,
trông em, cơm nước, giặt giũ. Cũng đã có rung động đầu đời hồi lớp sáu với một
bạn trai học giỏi nhất lớp. Hồng Anh trông cũng khá điển trai (theotiêu chuẩn tuổi thơ của tôi), chúng
tôi chơi khá thân. Có những tối giá rét ngồi ngoài đường bán thuốc lá, tôi tự
cho mình châm mấy que diêm lên, nhìn vào ánh lửa bập bùng và tưởng tượng chúng
tôi bên nhau cùng học bài, trò chuyện vui vẻ. Ánh lửa ngắn ngủi tắt ngấm từ khi
nào nhưng lòng tôi vẫn luôn ấm áp với những ý nghĩ tươi đẹp đó suốt cả buổi tối.
Nhưng để gọi là người yêu và đi
du lịch riêng với nhau như Alexandro và bạn gái thì tôi chưa bao giờ dám nghĩ đến.
Ngay cả sau này lên cấp ba cũng chưa từng. Với giờ “giới nghiêm” trước 09:00 tối
và được nhích thêm một tiếng rưỡi từ khi lên Đại học với lý do đi làm thêm, tôi
đâu có dám ước mơ gì cao xa.
Sau này có con chắc tôi cũng phải
như Margerita, sớm xác định về việc đón nhận người yêu con mình từ sớm. Xã hội
đã thay đổi nhiều rồi. Bố mẹ tôi cũng đã phải chấp nhận việc tôi đã không còn
là một cô con gái bé bỏng từ khi tôi sang Singapore làm việc. Vòng bao bọc đã bị
phá bỏ. Và giờ đây họ còn phải chấp nhận việc tôi ra ở riêng, rồi một ngày nào
đó sẽ định cư đâu đó không trên lãnh thổ Việt nam.
Thoải mái trong quần áo picnic,
ba chúng tôi bắt đầu khởi hành. Jens vừa lái vừa bật một kênh nhạc Đức nhè nhẹ (sau khi đã hỏi rằng anh có làm phiền tôi
không).
Margerita tranh thủ xem quảng cáo
của các siêu thị về đồ bếp và các món ăn mới. Chị là “quản lý” của gia đình. Chị
là người quyết định nên mua gì, ở đâu. Ba người đàn ông trong nhà luôn tôn trọng
mọi lựa chọn của chị. Margerita rất cẩn thận. Trước khi quyết định mua hàng bao
giờ chị cũng so sánh một loạt tờ rơi, chọn ra nơi có giá cả phải chăng nhất,
hãng có uy tín nhất.
Chúng tôi vừa đến nhà bố mẹ Jens
thì trời bắt đầu mưa. Mẹ Jens là một phụ nữ ngoài 70 tuổi. Đẹp lão. Tính cách thân
thiện. Hôm đó bà ở nhà một mình cùng con chó cưng. Bố Jens đã ra bến thuyền đi
câu từ sáng sớm với vài người bạn. Cuộc sống của họ thật dễ chịu. Kinh tế dư dả.
Hai ông bà có một căn nhà riêng hai tầng, một thuyền câu và lương hưu khá hậu
hĩnh. Con cái họ đã lớn hết. Giờ họ chỉ hưởng thụ, chăm sóc nhau.
Chúng tôi quyết định mặc áo mưa đạp
xe. Đã khá muộn. Mẹ Jens đợi ở nhà. Thật may đi được một quãng thì trời ngớt dần
rồi tạnh hẳn.
Ngày hôm đó là ngày Lễ nên khá
đông vui. Margerita và tôi đùa với Jens là anh thật may mắn khi hai “ladies” hộ
tống. Jens giả bộ chán chường vì lỡ buổi tự do đi nhậu với bạn bè.
Chúng tôi vừa đạp xe đạp vừa trò
chuyện vui vẻ. Giữa chúng tôi có một mối giao cảm rất đặc biệt nên ai cũng cảm
thấy rất gắn bó với bạn đường của mình.
Thỉnh thoảng, hứng chí lên, Margerita
và Jens còn cầm tay nhau khi hai người đi song song. Tôi theo sau định chộp lấy
khoảnh khắc lãng mạn đó mà không kịp.
Chúng tôi đến bãi biển Baltic. Ở
đây chỉ có khách du lịch trong nước, dân địa phương. Nước biển ở Đức lạnh ngay
cả vào mùa hè. Có nhiều trại, xe caravan đỗ ở khu vực quy định. Kiểu cách hoàn
toàn khác với các bãi biển ở Việt nam và các bãi biển nước ngoài mà tôi từng đi
qua.
“Một phong cách rất Đức” - Jens bảo tôi vậy.
Người Đức thường ra bờ biển cắm
trại. Thời tiết khi đó lạnh, không bơi được. Họ đến đây nghỉ ngơi và thư giãn.
Nếu muốn đi biển thật sự, họ sẽ sang Tây Ban Nha, ở đó vừa rẻ mà người dân cũng
nói được tiếng Đức, đặc biệt các vùng gần biên giới. (Tôi nhớ lần trước sang Mallorca (Majorca) thuộc Tây Ban Nha, cả khách sạn
tôi ở toàn khách Đức. Nhân viên phục vụ thậm chí không nói tiếng Anh với tôi)
Chúng tôi dừng tại trung tâm để
ăn kem. Sang đây bỗng dưng tôi “lây” nghiện kem. Ngày nào mà không ăn kem là cứ
thấy thiếu cái gì đó. Kem ở Đức du nhập từ Ý sang nên ngon và rẻ.
Margerita không thích kem. Trong
khi tôi và Jens thưởng thức vị ngọt lịm của kem ốc quế sữa chua dâu thì chị đi
về phía cầu.
Chúng tôi chụp ảnh chung với nhau rồi ngắm biển một lúc trước khi
trở về theo con đường khác. Đã hơn 14:00. Mẹ Jens đang đợi chúng tôi về ăn
trưa.
Không đủ thời gian nên chúng tôi
đi theo vòng cung nhỏ của bãi biển. Jens bảo (nếu tôi thích) buổi chiều anh sẽ cho tôi đi một vòng trên biển bằng
thuyền câu cá. Margerita bảo không đủ thời gian nên cả tôi và Jens đều “tiu ngỉu”.
Jens rất thích câu cá. Anh thừa
hưởng điều đó từ người cha đam mê câu cá từ trẻ của mình.
Tôi không thích câu cá lắm nhưng tôi
thích được lênh đênh trên biển.
Chúng tôi qua nhà đón mẹ Jens đến
khu bãi biển đối diện nơi đi xe đạp. Đây là khu chỉ có dân địa phương lui tới
thư giãn và ăn món cá truyền thống kiểu Đức. Jens bảo chắc chắn tôi sẽ thích vì
hầu như chưa bao giờ có người Châu á nào, đặc biệt chị chưa từng gặp người Việt
nam nào đến khu này.
Trong khi tôi và mẹ Jens ngồi đợi
ở bàn thì Jens đi mua đồ ăn, Margerita mua đồ uống. Chúng tôi ăn món cá truyền
thống với khoai tây nghiền. Món cá thật ngon khi uống kèm bia tươi của Đức.
Jens say sưa tả về đặc điểm của từng
loại cá trong khi Margerita giải thích cho tôi về cách chế biến món ăn.
“Một người câu cá và một đầu bếp
chuyên nấu món cá” - tôi đùa bảo với hai
người
Sau bữa trưa no nê, chúng tôi dạo
quanh khu chợ cá và bờ biển. Ngày lễ nên các sạp bán cá tươi đóng cửa hết. Tôi
chỉ thấy rất nhiều thuyền đánh cá đỗ gần đó. Điều đặc biệt là tôi không hề ngửi
thấy mùi tanh hay nhìn thấy những xác cá chết nổi trên mặt nước như các khu
làng chài ở Việt nam. Các sạp bán cá sạch sẽ và gọn gàng.
Jens dừng lại giữa đường, mải mê
trò chuyện với một người đánh cá đang chuẩn bị thuyền ra khơi. Margerita không
thích nói về đánh cá hay việc Jens quá say mê đánh cá. Tuy nhiên ở Đức quyền tự
do của con người là trên hết. Tôi không thấy Margerita phàn nàn. Chị chỉ liếc đồng
hồ mỗi khi Jens nói về cá.
Bốn chúng tôi trở về nhà bố mẹ
Jens khi trời bắt đầu mưa lại. Dù đã khá no nhưng mẹ Jens vẫn mang bánh và trà mời mọi người. Margerita
lấy bánh làm tối qua cắt ra đĩa. Rất giống với loại bánh táo mà tôi đã được ăn ở
các khách 5 sao ở Việt nam. Vị bánh chua chua, ngọt ngọt, béo ngậy trong vị kem
tươi.
Margerita và mẹ Jens vừa ăn vừa
trao đổi về cách làm bánh. Hai người có vẻ tâm đầu ý hợp. Jens ngồi ăn bánh, đọc
báo. Tôi đi lại ngắm nghía những bức ảnh gia đình. Mẹ Jens thỉnh thoảng chêm
vài câu giới thiệu về con gái, các cháu của mình. Tôi thấy cả ảnh của Marco và
Alexandro. Hai cậu trông rất bảnh trai từ khi còn nhỏ.
Đợi mãi không ngớt mưa. Jens sốt
ruột gọi cho bố. Ông vẫn chưa đi câu về. Ông nhất quyết từ chối việc Jens ra
đón nên chúng tôi về luôn.
Mẹ Jens tần ngần ra cửa tiễn chúng tôi, bà nói với
tôi:
“Lần sau sang Đức chị nhớ lại nhà
chúng tôi nhé”
---
Một ngày vui vẻ trôi qua. Chúng
tôi về nhà ăn nhẹ trước khi đi ngủ. Jens lại ngồi phòng khách xem bóng đá trong
khi Margerita và tôi lên phòng làm việc của chị để xem và cóp ảnh vào USB.
Marco chuẩn bị đi đến nhà người bạn
trong ban nhạc để tập. Margerita muốn Marco hát cho tôi nghe một bài nhưng
Marco xấu hổ nên cậu cho tôi nghe bài hát đã thu âm của nhóm (do cậu sáng tác).
Giọng cậu hay, rất khác khi hát
tiếng Anh. Cậu giới thiệu cho tôi xem một vài nhạc cụ mà cậu có thể chơi. Tôi
ngồi nghe, ngắm nghía và thấy thật ngưỡng mộ cuộc sống của gia đình họ.
Marco có lẽ được thừa hưởng tính
nghệ sỹ của Margerita. Hồi còn trẻ chị thích vẽ tranh và chơi violon. Ở phòng
khách nhà Margerita có một chiếc đàn Piano. Cả bốn thành viên trong gia đình đều
có thể chơi một vài điệu nhạc.
Margerita và Jens nói với tôi
sáng hôm sau họ đi làm sớm nên chúng tôi chia tay nhau vào tối đó. Họ không muốn
tôi vì họ phải dậy sớm. Tàu của tôi khởi hành lúc 13:20.
Tôi ngậm ngùi nói lời tạm biệt mà
mắt cứ cay cay. Không hiểu sao lúc đó tôi thấy rất xúc động. Cứ như là tôi đang
phải chia tay những người thân trong gia đình.
Margerita và Jens cũng xúc động. Thời
gian bên nhau ngắn ngủi nhưng họ nói họ rất trân trọng những khoảng khắc mà
chúng tôi ở bên nhau.
Tôi sợ ở lại lâu sẽ khóc nên vội
vàng ôm hôn hai người rồi xuống phòng. Họ ở lại bên nhau thêm một lúc nữa,
trong phòng khách, rồi tôi thấy tiếng chân họ bước trên cầu thang gỗ về phòng.
Thật nhanh quá! Có phải khi ta ở
bên những người ta quý mến thì thời gian trôi nhanh hơn bình thường!
---
Trở về nhà anh trai, vòng quay
nhàm chán lặp lại như trước khi rời đi. Sáng dậy thui thủi ăn sáng một mình.
Làm việc. Trưa ở nhà ăn một mình hoặc ra quán, cũng ăn một mình. Làm việc. Tối
cũng đa phần ăn một mình.
Anh chị tôi đa phần đi từ sáng sớm,
mua đồ, mang ra cửa hàng, chuẩn bị đồ để mở cửa hàng lúc 11:00. Không ai có
thói quen ăn sáng. Có khi chớp nhoáng gặp nhau mươi mười lăm phút khi họ ngồi cạn
ly cà phê tự pha và rít vội điếu thuốc. Họ ở cửa hàng đến tối mịt mới về. Trưa
tôi có ra chơi thì họ cũng bận khách. Tôi thích gì thì vào làm ăn. Không thì
sang các tiệm gần đó ăn đồ khác. Tối sớm nhất cũng phải 21:30 họ mới về nhà
trong trạng thái mệt mỏi. Lúc đó họ mới cùng ăn tối.
Mấy ngày đầu tôi cũng cố đợi họ về
ăn cho vui. Nhưng tôi quen ăn đúng giờ. Hơn nữa, mấy người ngồi với nhau mà
cũng không chuyện trò gì nhiều. Người thì mải xem phim, người thì ăn nhanh còn
vào tính tiền hàng, lên thực đơn hay danh sách mua đồ cho ngày tiếp theo. Trẻ
con thì trong phòng.
Hai đứa cháu thường đi học từ sáng
sớm. Thỉnh thoảng chúng về trưa muộn, ăn ngoài cửa hàng hay tự quay pizza, mỳ ý
làm sẵn lúc tôi đã xong bữa. Có tối chúng cũng về đúng bữa nhưng không thích ăn
cơm kiểu Châu Á. Lại ăn bánh mỳ hay đồ ăn nhanh. Có khi tạt qua cửa hàng của bố
mẹ ăn trước khi về nhà. Chúng nó có ở nhà thì cũng mỗi người một nơi. Chúng nó
không nói tiếng Việt nhiều. Tôi thì không hiểu tiếng Đức mấy. Thỉnh thoảng đá
sang tiếng Anh thì chỉ có đứa lớn là hiểu. Còn lại sẽ là vòng dịch luẩn quẩn giữa
ba cô cháu.
Hai đứa cũng mỗi đứa một điện thoại,
một máy tính riêng. Đứa thì học hay xem gì đó. Đứa thì cắm tai nghe từ lúc về đến
lúc đi ngủ. Tóm lại, đất nước tự do, gia đình tự do. Mạnh ai nấy lo. Chỉ có một
nề nếp tôi thấy ổn là đứa nhỏ tự lên giường lúc 21:00 và đặt chuông lúc 06:00 dậy
đi học. Bố mẹ không cần giục, không cần gọi.
Có ngày tôi buồn ra đường lang
thang dạo phố, vào cửa hiệu – một mình. Có mấy lần dẫn đứa cháu nhỏ đi cùng, nó
quen như đi với bố mẹ đòi mua đủ thứ. Từ chối thì không nỡ, mà chiều lòng thì
không biết bao tiền cho đủ. Đứa lớn thì cũng đôi lần đi cùng nhưng chỉ vào hàng
của thanh niên. Nó chẳng quan tâm tôi thích gì, muốn xem gì.
Anh chị tôi thì đương nhiên không
có thời gian cho cái thú vui “xa xỉ” đó. Cần thì đi vào siêu thị mua chóng
vánh. Không thì cũng rình đúng đợt giảm giá hay khi cửa hàng thật vắng khách mới
đi mua đồ.
Vậy nên, đi một mình tôi thấy thoải
mái và dễ chịu hơn.
---
Gặp lại người bạn thân tại Munich,
thủ phủ bang Bayer, khiến tôi rất vui mừng.
Năm năm không gặp lại Bình khác rất
nhiều, cả về phong thái lẫn tính cách. Cậu cởi mởi hơn, nồng nhiệt hơn. Thậm
chí cậu còn thơm má như kiểu hai bạn Tây chào hỏi nhau.
“Cậu muốn thăm điểm nào ở Munich
trong một ngày dừng chân?”
Việc tạt qua Munich giống như một
“duyên nợ” trong hành trình thăm nước Đức chứ không hẳn là một điểm đến trong kế
hoạch. Munich với tôi hoàn toàn xa lạ, tôi chỉ biết đó là một trong những thành
phố cổ lớn nhất Tây Đức với rất nhiều công trình kiến trúc nổi tiếng và tuyệt đẹp.
Tôi đi Stugatt thăm bạn của anh
trai. Tình cờ gặp người bạn thời Đại học. Từ Stugatt đi Munich cũng chỉ hai tiếng
lại có lời mời, nên tôi quyết định ghé thăm. Gần Noel nên Bình khá bận và không
xin nghỉ được. Bình chỉ dám mời tôi ở lại một đêm, một ngày nhân ngày nghỉ tuần
ứng trước.
“Thì đâu cũng được. Chỗ nào đẹp
nhất ấy” – tôi còn chưa kịp “điều tra” về điểm đến theo thói quen khi đi du lịch
“Vậy mình lang thang ở quảng trường
Marien. Chỗ đó giống như hồ Hoàn Kiếm đối với Hà nội vậy. “Trái tim Thủ Đô” – bạn
tôi nháy mắt cười
Từ nhà người bạn ra quảng trường
Marien khá xa. Chúng tôi phải đổi tới hai lần tàu điện và qua vài bến tàu điện
ngầm.
Chói lòa bởi ánh nắng trên quảng
trường khi chúng tôi từ Ga tàu điện ngầm lên, tôi hơi ngỡ ngàng khi trước mặt
mình là một cổng chào vào trung tâm quảng trường được thiết kế như một cổng lâu
đài sừng sững. Một lối chính to phía trước và hai lối nhỏ hai bên. Chúng tôi đi
về phía nhà Quốc hội, trung tâm của quảng trường và của thành phố cổ Munich.
Mặt trước Nhà quốc hội (Rathaus) đang
trong thời gian bảo dưỡng nên tôi chỉ thấy được một bức tranh lắp ghép giữa các
phần hoàn chỉnh và những phần đang che bạt. Một bà già người Đức tủm tỉm cười
khi thấy tôi chụp lại bức tranh toàn cảnh khá hoàn hảo ngay chân công trình.
“Gut idee” – một ý tưởng hay! Bà
nói một mình vì nghĩ rằng chúng tôi không hiểu tiếng Đức.
Tôi quay lại nhìn bà. Cười cho sự
“láu cá” của mình. Với góc chụp này, tôi có thể “khoe” với bạn bè rằng tôi đã
leo lên được đỉnh tòa nhà cao nhất Munich khi chụp được tấm hình toàn cảnh Munich
từ trung tâm quảng trường!
Nhà Quốc hội được xây dựng vào cuối
thế kỷ 19, theo phong cách “Gründerzeit" - kiến trúc hoài cổ. Vào thế kỷ
19, người ta phủ nhận thành tựu công nghệ cao của khoa học và nền công nghiệp
mang lại bằng cách xây dựng các cổng tòa nhà giống như những cung điện, đền
đài.
Nhà thờ Frauen nằm ở góc kế bên với
lối kiến trúc cổ điển là biểu tượng nổi tiếng nhất của thành phố cổ Munich. Một
công trình khá đồ sộ hiển hiện trước mắt tôi với những mái vòm cong kiểu
Gothic. Phía cao kia, qua ống máy kính, tôi thấy một chiếc đồng hồ rất lớn nằm
chính giữa đỉnh tháp. Phía dưới có biểu tượng của một lầu đài thu nhỏ, cảnh vua
chúa ngự lãm phía trong đang xem biểu diễn hài.
Màn đêm buông xuống từ lúc nào. Cứ
quanh quẩn mãi mấy phố nhỏ xung quanh khu vực nhà Quốc hội chúng tôi đã quay lại
điểm bắt đầu lúc nào không hay. Với ánh đèn trang trí rực rỡ, những công trình
kiến trúc cổ còn long lanh và đẹp hơn hẳn lúc ban chiều.
Phố xá tập nập. Trong những góc
phố chính, nghệ sỹ đường phố thi nhau đua tài. Một nhóm nhạc violon đang tấu bản
nhạc mới rất tình tứ. Họ biểu diễn với một sự say mê khiến người xem cứ nấn ná
mãi không muốn rời. Đám đông vây quanh vỗ tay râm ran. Tôi lại gần thả đồng năm
Euro vào chiếc hòm trong khi một người trong nhóm ngừng chơi và cầm đĩa nhạc mới
phát hành của nhóm mời khách du lịch mua.
Tôi chìm đắm trong một cảm giác
say sưa tới độ quên hẳn rằng thời gian đang trôi. Đã hơn 22:00 giờ. Nếu bản nhạc
không kết thúc và nếu Bình không kéo đi thì có lẽ tôi cứ đứng đó mãi.
Dù khá là đói bụng rồi nhưng đi
qua một góc phố khác trong lúc tìm quán ăn tôi vẫn không thể không dừng lại xem
và bỏ thêm một tờ năm Euro nữa vào ống tiền trước mặt một anh “nghệ sỹ nổi loạn”.
Tôi gọi anh như thế bởi lối biểu diễn chẳng giống ai. Anh một mình độc diễn nhiều
loại nhạc cụ kèm theo cả tiếng hát vui nhộn và hài ước. Thứ nhạc đó không thể
coi là một nghệ thuật tiêu chuẩn nhưng nghe cũng thấy vui tai.
“Ăn gì nhỉ?”
Chẳng có nhiều lựa chọn. Nếu muốn
ăn ngon thì sẽ phải đi xa một chút. Cuối cùng, chúng tôi quyết định ăn tạm
McDonnald tại góc phố gần đài phun nước và ga tàu điện ngầm của quảng trường.
Coca cola lạnh và món hăm bơ gơ bò nóng hổi ở đây ngon hơn hẳn. Đặc biệt khi bụng
đói cồn cào.
Một ngày ngắn ngủi trôi qua thật
nhanh trên quảng trường Marien. Tôi luôn để cảm xúc của mình thăng trầm theo
đúng cung bậc tự nhiên của nó. Dù gì cũng đã đến lúc chia tay rồi. Không chỉ ngậm
ngùi vì chia tay một thành phố cổ còn nhiều “ẩn số” chưa được giải đáp. Kim đồng
hồ chuyển sang 24:00, tôi và Bình nhìn nhau. Giống hệt cảm giác năm năm về trước
tại góc phố cổ Hà nội, một đêm mưa lất phất khi hai đứa kết thúc buổi vui chơi.
Tôi đã có thể ở lại thêm nếu muốn.
Nhưng tôi thích những trải nghiệm ngắn ngủi mà thú vị.
Chúng tôi bắt tàu về
nhà. Ngủ. Một đêm không mộng mị. Chỉ có những ký ức đẹp.
Hy vọng sẽ gặp lại
nhau nhanh hơn khoảng thời gian đã qua.
---
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét