Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2016

Nơi dòng chảy bắt đầu - Chương 10 | Con Lai - Tiểu thuyết


Đôi khi cách tốt nhất để hiểu con người mình là đến một nơi nào đó mà bạn có không phải là người khác

Sometimes the best way to figure out who you are is to get to that place where you don’t have to to be anything else” 

---
13:05 máy bay hạ cánh sân bay Phú quốc. Sân bay nhỏ nhưng sạch sẽ và bắt mắt hơn sân bay Nội Bài. Đồ ăn có nhiều lựa chọn hơn và dịch vụ cũng tốt hơn. Sau khi lấy đồ, tôi tạt vào hàng Burger King ăn tạm chiếc Burger bò và hai cánh gà chiên. Tôi thấy đồ Burger King ngon hơn KFC. 

Cũng chẳng có gì phải vội. Tôi đang đi nghỉ. Bỏ lại sau lưng những tuần bận rộn, những vấn đề không phải của chính mình và những người chắc đang cau có vì sự vắng mặt của tôi.

Từ khi chuyển sang sân bay mới thì quãng đường về khách sạn cũng xa hơn. Nhưng so với sân bay Nội Bài về nội thành Hà nội thì vẫn gần. Đường đi thoáng mát và vắng vẻ, không còi xe. Con người vùng biển điềm tĩnh do hưởng nhiều khí tự nhiên.

Lần trước tôi ở trên khu phố bảy, đường Trần Hưng Đạo. Giờ khu đó cũ, đường xá không đẹp bằng đoạn Cửa Lập, Dương Tơ. 

Đúng như nhiều phàn nàn của khách du lịch trên mạng, tình trạng xây dựng quá hỗn loạn, ồn ào. Mới hơn một năm mà Phú quốc trong tôi đã lạ lẫm nhiều với các khu nhà nghỉ, khách sạn cao cấp mọc như nấm, những khu đất rộng quây lại và nhiều khu đang xây dang dở. Đảo Ngọc giờ bị xẻ ngang xẻ dọc với các khu nghỉ dưỡng đã và đang mở rộng đến ngút ngàn. 

Tự dưng tôi lại nhớ đến Nick. Nếu anh sang Việt nam, đến Phú quốc thời điểm này, hẳn không thể không tiếc rẻ vì đã chần chừ bấy lâu không đầu tư vào bất động sản ở đây. 

Lần đầu anh sang Việtnam đã đem lòng yêu mến Phú quốc. Sau này, anh dự định mua một mảnh đất ở khu biển. Anh đã lưỡng lự giữa Phú quốc, Mũi né hay đâu đó ở Bali, Indonesia. Trong chuyến khảo sát năm 2001, tôi khuyên anh nên chọn Phú quốc. Chỉ tiếc anh không đủ quyết tâm để thực hiện mơ ước của mình. 

Tình yêu Phú quốc trong tôi vẫn nguyên vẹn dù không mãnh liệt như lần đầu. Tôi thích những bãi biển tự nhiên, vắng vẻ. Tôi lại tự mẫu thuẫn khi mong muốn những tiện nghi tốt hơn trên Đảo Ngọc mỗi lần trở lại.

Con người ta cứ luôn mắc kẹt giữa những ước muốn. Tôi luôn mắc kẹt giữa một ngã ba đường. Tôi đã luôn chần chừ. Tôi đã không yêu ai đủ sâu đậm để quyết tâm theo đuổi đến cùng.

---
Nằm dài trên ghế phơi nắng ngoài bãi biển đọc đoạn kết cuốn “Dành hết cho em” của Nicholas Sparks mà đầu óc tôi cứ mông lung. Một câu chuyện tình lãng mạn nhưng kết cục quá đột ngột, quá buồn. Amanda và Dawson đã có một tình yêu thật đẹp. Những thời khắc hạnh phúc ngắn ngủi bên nhau thời mười tám đôi mươi. Nhưng có đáng không khi phải chờ đợi hai mươi lăm năm mới gặp lại. Thêm một ngày tuyệt đẹp nữa tại nơi mà họ đã từng rất hạnh phúc. Rồi tất cả lại đi vào dĩ vãng khi kết cục họ còn chưa vượt qua lại ranh giới mong manh giữa lý trí và tình cảm thì Dawson đã đi xa mãi xa.

Nicholas Sparks có khá nhiều tiểu thuyết lãng mạn hay đã được dựng thành phim. Đa phần là những câu chuyện phảng phất những nỗi buồn đâu đó giữa những cuộc tình khi hợp khi tan. Tôi thì thích những kết thúc có hậu hơn. Khi đọc Tiểu thuyết hay xem phim tôi luôn dồn cảm xúc quá nhiều vào đó. Cứ giống như tôi là nhân vật chính. Một sự ám ảnh thái quá khi tôi cứ tưởng tượng rằng những gì xảy ra với họ chính là đang xảy đến với mình.

Tôi lựa chọn khu nghỉ Paris beach với nhiều lý do: có bể bơi, có bãi biển riêng, đầy đủ tiện nghi cơ bản và giá cả rất hợp lý. Tôi đọc khá nhiều bình luận về khu nghỉ dưỡng trước khi đặt. Nói chung mỗi người một quan điểm nhưng cũng có một số điểm chung: khu bãi biển phía sau có riêng tư thật nhưng quá nhỏ, đồ ăn thì giá vừa phải nhưng không thực sự ngon, không có nhiều lựa chọn, nhân viên thiếu chuyên nghiệp và không mấy thân thiện.
 
Trước đây, tôi thường ở các khu năm sao. Giờ phải chăng tôi đang hạ thấp giá trị bản thân? Một công việc nhẹ nhàng hơn để có thời gian cho đời sống cá nhân, một môi trường quy mô nhỏ không quá áp lực, thu nhập không cao như kỳ vọng nhưng đủ cho chi tiêu cá nhân. Tôi đang “ép” mình vào lựa chọn thấp hơn mà tôi cho là thích hợp? 

Tôi nghĩ đến Mark. Mới gặp lại hôm qua mà tôi có cảm giác dường như đã từ lâu lắm. Tôi không nên gặp lại anh trong thời gian này. Chuyện tình cảm của tôi đang bế tắc. Cuộc sống của tôi đang rối rắm. Anh không nên nói những lời “đường mật”. Sao anh nói vẫn lưu luyến quãng thời gian chúng tôi ở bên nhau, rồi sau đó chóng vánh tạm biệt không định ngày gặp lại. 

Cuộc chiến giữa lý trí và tình cảm đang trở nên gay gắt. Tôi ước gì mình đủ quyết đoán để theo hẳn một phía. Cái ngã ba đường mà tôi luôn dẫn mình đến thật rối ren. Những tiếc nuối, phân vân lại dày vò: “Liệu mình làm thế là đúng hay sai? Liệu mình để tình cảm chiến thắng vào thời điểm hai năm về trước thì mọi việc có tốt hơn không?”

Tự khỏa lấp nỗi buồn bằng công việc, các hoạt động ngoại khóa, sở thích cá nhân khác. Tự lừa dối mình rằng mọi việc rồi sẽ ổn thỏa. Giá có ai đó phù hợp thì tôi có thể quên anh mãi mãi, giống như những mối tình thoảng qua trong đời.

Gần bốn năm yêu nhau thắm thiết, có dễ dàng phai nhạt được chăng?

---
Tôi đã có một cơ hội tuyệt vời là làm việc cho một Tập đoàn chuyên kinh doanh thương mại điện tử lớn của Mỹ. Khi đó họ có chiến dịch mở một loạt công ty con tại Châu Á. Trong đợt tuyển mộ quy mô lớn, với nhiều vòng loại gắt gao, tôi may mắn lọt vào danh sách một trong mười “hạt giống” đầu tiên của thị trường Việt nam.

Ngay khi được nhận, chúng tôi được cử sang trụ sở chính của khu vực Châu Á Thái Bình Dương tại Singapore để đào tạo và học việc trong vòng sáu tháng.

Diện tích toàn Singapore chỉ bằng hơn một phần tư Hà nội mở rộng với bình quân dân số lên đến hơn năm triệu. Thiên nhiên không ưu ái cho Singapore nhiều “rừng vàng biển bạc” như Việt nam. Đất nước nhỏ bé này đã nỗ lực vươn lên một cách ngoạn mục. Bằng việc sử dụng hiệu quả chất xám của con người, Singapore đã đi trước Việt nam đến mấy chục năm.

Tuần đầu tại văn phòng Singapore tôi đã gặp Mark. Anh là Trưởng phòng Pháp Lý khu Vực Châu Á Thái Bình Dương, một trong những đào tạo viên quan trọng của chúng tôi. Anh sinh ra tại Úc nhưng từ khi trưởng thành anh sống tại Anh và làm tại văn phòng Luân Đôn trước khi chuyển sang Singapore. 

Lớp đào tạo được chia theo mảng công việc nên trong nhóm phát triển thị trường chỉ có mình tôi là người Việt nam. Các bạn còn lại đến từ Thái lan, Malaysia, Indonesia, Philipin và Hàn quốc. 

Tập đoàn đầu tư khá lớn cho đội ngũ tiên phong này: lương toàn thời gian cho cả sáu tháng, mỗi người sẽ được về thăm nhà hai lần, chi phí vé máy bay, bảo hiểm, nhà ở, đào tạo, ăn uống, đi lại, giao lưu nhóm tại Singapore trong thời gian sáu tháng do công ty thanh toán toàn bộ. Ba người xuất sắc nhất trong số 60 tân binh đến từ sáu nước sẽ được thưởng một chuyến đào tạo chuyên sâu trong vòng một tháng và một tuần nghỉ dưỡng ngay sau đó tại thành phố New York.

Các Tập đoàn của Mỹ luôn rất đề cao vấn đề Pháp lý và đạo đức nghề nghiệp, đó là lý do tại sao Mark là một trong những giảng viên đầu tiên của chúng tôi. 

Chúng tôi được yêu cầu và khuyến khích cùng nhau đi ăn trưa, giao lưu trong các giờ giao lao, sinh hoạt nhóm, các buổi tọa đàm bán chính thức, các cuộc giải trí tại quán Bar, các chuyến thăm ngắn đến các điểm nổi tiếng của Singapore vào thứ bảy hàng tuần. 

Mark là một người giỏi giang, nghiêm túc. Anh khiêm tốn, hiền lành. Anh thích lập luận về các vấn đề trong cuộc sống và muốn có những “đối thủ” xứng tầm. Anh thích đi du lịch, thích gặp gỡ nhiều người từ khắp nơi trên thế giới để nghiên cứu tâm lý ứng xử và sự khác biệt giữa các nền văn hóa.

Tôi thực sự choáng ngợp trước tầm học cao hiểu rộng của anh. Anh thì thích cách tôi tranh luận, thích sự thẳng thắn và thật thà mỗi khi tôi thú nhận về những điều tôi chưa bao giờ trải nghiệm. Anh vui vì anh có thể chia xẻ với tôi nhiều điều khi tôi không cố tỏ ra am hiểu hay giả vờ ngốc nghếch để lấy lòng anh như  đa phần các cô gái khác trong đội tân binh.

Sau ba tuần làm quen, vào những ngày chủ nhật, tôi và Mark hay cùng nhau đi dạo ở East coast, nơi có công viên, bờ biển yên tĩnh. Không đông đúc, ồn ào như Sentosa.  Đôi khi chúng tôi có thể ngồi đọc sách hàng giờ trong công viên Hort hay “trốn” cả ngày trong khu trang trại Kranji để quên việc bị vây quanh bởi những tòa nhà chọc trời, những cảnh sắc hoàn toàn nhân tạo. Hiện đại, đẹp mắt nhưng xa cách.

Tôi thích Tiểu thuyết lãng mạn, sách về ứng xử, trải nghiệm cuộc sống. Mark thích nhất Truyện trinh thám và sách về khoa học. Chúng tôi tìm thấy điểm chung trong các chương trình về động vật, thiên nhiên như “BBC earth”, “Animal planet”, “Discovery”; một vài Tiểu thuyết lãng mạn giả tưởng của Guillaume Musso, loạt phim Điệp viên 007, Nhiệm vụ bất khả thi, Người vận chuyển.

Sở thích âm nhạc của tôi khá là đa chiều. Tôi thường nghe loại nhạc theo tâm trạng. Trừ Hard Rock và nhạc dân tộc Việt nam, tôi nghe nhiều loại nhạc khác nhau như Rock&roll, Ballad, Country music, Jazz, các bản nhạc không lời đặc biệt của Richard Clayderman, Kenny G, Mozart. Mark thiên về các bản Ballad và country music. Anh nghe có chọn lọc, theo một chuẩn mực nhất định, không phụ thuộc cảm xúc. Anh không thích nhảy, nhưng giống tôi, anh thích các chương trình trượt băng nghệ thuật. Anh mong muốn một ngày nào đó sẽ thử bộ môn này với một người đặc biệt trong đời. Người mà anh có thể tin tưởng hoàn toàn.

Mới sau hai tháng, gặp nhau riêng vài ngày cuối tuần, thuần khiết trên phương diện bạn bè, đồng nghiệp (thì có hơn đồng nghiệp bình thường một chút), chúng tôi đã tìm được nhiều điểm tương đồng, nhiều chia xẻ quý báu mà thậm chí giữa những người bạn lâu năm chưa chắc có được. Đó là một trải nghiệm cuộc sống hoàn toàn mới lạ, khác hẳn với những mối quan hệ bạn bè tôi đã từng có. 

Việc tìm được người bạn đồng hành tuyệt vời như Mark tại nơi đất khách quê người là một động lực lớn lao để tôi vượt qua căng thẳng của những giờ đào tạo dài vô tận, khối kiến thức khổng lồ, những buổi giao lưu quá khuya.

Từ tháng thứ ba, chúng tôi có một lịch trình dày đặc hơn, bận rộn hơn. Nửa buổi với chuyên gia người Mỹ từ văn phòng New York, nửa buổi còn lại sẽ thực hành các vấn đề đã học với thực tế của thị trường Singapore và Hồng Kông. Sang tháng thứ sáu là các bài kiểm tra thực hành nghiệp vụ. 

Nhóm tôi chú trọng đến phân khúc, tìm kiếm, tiếp cận và quản lý khách hàng tiềm năng. Thời gian thử việc có thể coi là cả sáu tháng. Dù qua được ba tháng thử việc chính thức mà kết quả các bài thực hành, kiểm tra không đạt thì vẫn có khả năng bị loại. 

Nhiều ngày chủ nhật tôi chỉ có nhu cầu nằm dài trên bãi biển hay ở bể bơi để thư giãn, lấy lại sức lực. Đôi khi chúng tôi gặp nhau cả ngày nhưng chẳng mấy khi tán gẫu. Chúng tôi đã ăn ý như một đội. Một trong hai người luôn biết khi nào thì người kia cần nói chuyện, khi nào mỗi đứa một quyển truyện/sách hay một Ipod của riêng mình. 

Chúng tôi đăng ký thẻ tập tại Fitness first trong tòa The Cathay Dhobyghaut. Thỉnh thoảng chúng tôi xem phim ngay ở rạp Cathay Cineplex ở tầng trên cùng; lang thang khu Orchard; đôi khi có thể leo lên công viên Fort Canning, phía sau Bảo tàng Quốc gia Singapore, nơi trước đây được biết đến với tên gọi “Ngọn Đồi Cấm” và từng là kinh đô của những đời vua Mã Lai vào thế kỷ 14. Có lúc chúng tôi sẽ ở cả buổi tại Viện Khoa Học Singapore, một trong những Trung tâm hàng đầu khu vực Châu Á, để Mark thực hiện cam kết trong chương trình tình nguyện về Khoa học mà anh yêu thích. 

Sáu tháng trôi qua nhanh chóng nhờ những trải nghiệm thú vị với Mark. Tôi hoàn thành xuất sắc các bài kiểm tra thực hành, dù không lọt vào Top 3 và hụt mất chuyến đi Mỹ. Mark an ủi một ngày nào đó anh sẽ làm hướng dẫn miễn phí cho tôi ở New York. Anh đã từng ở đấy hơn hai năm khi làm tại trụ sở chính của Tập đoàn.

Chúng tôi được nghỉ phép một tuần sau khóa đào tạo. Tôi quyết định ở lại Singapore. Mark xin nghỉ phép tuần đó để lang thang cùng tôi. Chúng tôi dành thời gian đi thăm thú thêm một số khu bảo tồn, công viên như Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bukit Timah (một trong những khu bảo tồn rừng đầu tiên được xây dựng ở Singapore); Công viên Thiên nhiên Bukit Batok (độc đáo với việc được xây dựng trên một bãi đá bỏ không); Khu Bảo tồn Thiên nhiên Labrador (nơi có thể khám phá các loài thực vật trên vách đá và thưởng ngoạn toàn cảnh biển); Công viên Bảo tồn Đầm lầy Sungei Buloh Wetland Reserve (mở cửa đón khách từ 1993).

 

Tuần cuối đó sao mà chóng vánh và ngắn ngủi. Sự im lặng giữa hai chúng tôi còn đem lại nhiều chia xẻ hơn bất kỳ cuộc hội thoại dài dằng dặc nào. Tôi để ý ánh mắt Mark dành cho tôi bỗng trở nên tha thiết hơn, đôi khi đằm thắm một cách khó hiểu. Tôi cũng quý mến anh hơn mức một người bạn.  Chúng tôi chia tay, ngầm hiểu với nhau về mối liên kết thật đặc biệt giữa hai tâm hồn. Không hứa hẹn. Không một lời thổ lộ. 

 

---

Tìm một chút riêng tư ở góc xa nhất có thể tại bể bơi, làm vài động tác khởi động trước khi lò dò xuống bể (tôi chưa bao giờ đủ bạo dạn để nhảy ùm từ trên thành xuống dưới nước, mặc dù tôi cũng nghĩ cảm giác đó sẽ thật tuyệt). Nước lạnh hơn tôi tưởng. Tôi đã quá lười vận động hai tuần trở lại đây.

 

Dạo vài vòng cho thư thái rồi nằm ngửa trên mặt bể ngắm bầu trời. Một ngày ba mươi Tết thật đặc biệt trong đời. Không tất bật mua sắm giữa phố phường chật cứng, không dọn dẹp nhà cửa, không túi bụi làm cỗ, không háo hức mong chờ giây phút bắn pháo hoa như một con nhóc mới lớn, không nghĩ đến những công việc tẻ nhạt. Chỉ mình tôi, ở đây, hưởng thụ những giây phút an nhàn, làm những điều mình mong mỏi.

 

Sau khi làm thêm vài vòng nữa quanh bể, tôi thỏng thả lên ghế ngồi phơi nắng, đọc sách. Đó là cuốn “Khi mọi điểm tựa đều mất” (Happy for no reason) của Marci Shimoff trong chuỗi “Hạt giống tâm hồn” (Chicken soup for the woman’s soul). Chương tám “Tạo dựng mái nhà – sống vì một mục tiêu”, có đoạn “Nhiều người làm việc chỉ đơn thuần là để trang trải những chi phí trong cuộc sống và họ cảm thấy mình mất tự do, thiếu khả năng hay không có cơ hội để tìm được một công việc thật sự yêu thích. Học chối bỏ chính bản thân mình, sống không có mục tiêu, quẩn quanh với những công việc nhàm chán và chỉ thật sự sống đúng nghĩa vào những dịp cuối tuần” và rồi tác giả hướng dẫn thói quen thứ nhất cho một cuộc sống có mục đích với sự mở đầu bằng trích dẫn lời của Thomas Kinkaide “Khi con người phát hiện ra đâu là đam mê, là lý thưởng đời mình thì cuộc sống sẽ ngập tràn sự bình yên – bình yên như khi những tia nắng sớm chiếu rọi vạn vật và làm bừng sáng cả mặt đất bao la

 

Tôi đã bị cuốn đi với những công việc quen thuộc hàng ngày, tự cho rằng mình đang đi đúng hướng và đang có mục đích rõ ràng. Nhưng công việc hiện tại có thực sự là một đam mê? Hay đơn giản nó đem lại thu nhập tốt và sự an nhàn giả tạo? Tôi có đang bình yên không? Những mối tình thoáng qua để lấp liếm sự cô đơn thiếu vắng sau khi chia tay Mark có thực sự là những thứ tôi cần? Hay chỉ là một sự trốn chạy tạm thời mà tôi cố ép mình theo để không cảm thấy yếu đuối và quá đau buồn khi mất đi một tình yêu lớn trong đời?

 

Tôi lại nghĩ về Mark, về những kỷ niệm đẹp khi chúng tôi bên nhau. Dường như có một khát khao cháy bỏng chợt dâng trào. Tôi chẳng cần gì lúc này, ngoài sự hiện diện của Mark, vô tư và vui vẻ như sáu tháng tại Singapore tám năm về trước.

 

Tôi chưa bao giờ, trước đó và sau này, tìm được một sự chia xẻ không lời nào quý giá hơn những điều mà Mark mang lại cho tôi. Tôi lại thấy nhớ anh, nhớ những quãng thời gian tươi đẹp và những điều mà chúng tôi cùng nhau trải nghiệm. 

 

---

Một trái bóng bay vèo qua mặt khiến tôi tỉnh mộng. Cậu bé lớn hơn của gia đình nước ngoài ở bể bơi quá tay ném bóng vượt qua thành bể và rơi phịch ngay đầu ghế. Tôi nghe thấy tiếng cậu xin lỗi bằng tiếng Anh. Tôi đứng dậy nhặt bóng, ném trở lại cho cậu. “Bắt nhé” - tôi vừa ra hiệu vừa nói. Cậu tươi cười bắt trúng phóc. Bố mẹ cậu lịch sự cảm ơn bằng tiếng Anh rồi quay qua cậu nói bằng tiếng địa phương.

 

Tôi buông sách, đứng dậy đi về phía cậu bé khi thấy mặt cậu có vẻ tiu ngỉu. Quả bóng đã bị tịch thu. Lần đầu tiên trong đời, tôi quyết định thay đổi thói quen, bắt chuyện với người lạ. 

 

“Cháu có muốn chơi ném bóng nếu bố mẹ cháu đồng ý?”

“Dạ có, cháu chẳng có ai chơi. Bố không chịu xuống nước”

“Xin lỗi, anh chị không phiền nếu tôi chơi bóng với cậu bé một lúc chứ?” -  Tôi hướng về phía bố mẹ cậu dò hỏi – “Tôi đang nhàn rỗi và chỉ có một mình”

Người mẹ có vẻ lưỡng lự, chưa kịp từ chối thì người bố đã nói “Vâng, dĩ nhiên là được. Nó thích chơi bóng lắm”

Tôi nhặt bóng và xuống nước. Cần phải làm gì đó để không chìm vào cảm giác ủy mị. Trời đẹp thế này kia mà.

-         Cháu tên là gì?

-         Betram

-         Cháu từ đâu đến?

-         Đan Mạch (thảm nào, cái âm ngữ có vẻ vừa quen vừa lạ, tóc cả nhà vàng hoe và người mẹ khá là cao to đúng kiểu vóc dáng phụ nữ Bắc Âu)

-         Cháu bao nhiêu tuổi?

-         9 tuổi

-         Tiếng Anh của cháu tốt lắm. Cháu có thích Việt nam không?

-         Cháu…cháu không biết…cháu

-         Chúng tôi không đi đâu khác ngoài Phú quốc – người bố phân trần - chỉ ở bãi biển hay ngoài bể bơi. Tôi không chắc Betram có thể phân biệt được sự khác nhau giữa Việt nam với một nơi nào khác.

-         Ồ! Anh chị ở Việt nam bao lâu? – tôi chuyển hướng quay sang người bố

-         Chúng tôi ở đây ba tuần

-         Vậy anh chị sẽ đi đâu sau Phú quốc?

-         Không đâu cả. Chúng tôi đi Nhật ba tuần trước khi sang đây. Chúng tôi đã thăm Việt nam một lần cách đây 6 năm (chả trách Betram không có cảm nhận gì và không thể trả lời câu hỏi hóc búa của tôi

 

Trong lúc tôi và người bố vừa nói chuyện, tôi vừa tung và bắt bóng cùng Betram, người mẹ ở cách đó một đoạn với đứa em nhỏ. Có vẻ cô không muốn trò chuyện cùng người lạ. Dễ hiểu thôi. It phút trước, đó cũng là thói quen cực hữu của tôi.

Nói chuyện thêm tôi được biết họ mới đến một tuần, đứa nhỏ hơn bốn tuổi, họ có thể tự dạy thêm Betram để theo kịp chương trình ở lớp khi đi nghỉ dài, anh chồng làm cho một công ty Thương mại, vợ anh là chủ một hãng thời trang nhỏ tại Copenhagen…

 

Tôi nán lại chơi với Betram thêm một lúc với trò lặn tìm đồ đáy bể. Betram nhỏ thó mà khá là lanh lẹ, cậu bơi, lặn rất giỏi. Khi tôi chào về phòng tôi nghe cậu nói nho nhỏ “Chán quá! Vậy là chẳng có ai chơi cùng nữa”. Tôi nghe hai bố con nói gì đó với nhau bằng tiếng Đan Mạch. Người bố vừa nói vừa lắc đầu khiến tôi hiểu rằng cậu đã thất bại khi cố thuyết phục bố xuống nước chơi cùng mình.

 

Tắm tráng xong tôi lại quyết định ôm sách ra bờ biển. Hiếm khi tôi ở trong phòng. Trời đất và cảnh vật đẹp thế. Tôi không đi xa chừng đó để ngồi phòng máy lạnh và xem vô tuyến.

 

Tiếng sóng rì rào luôn làm cho tâm hồn tôi thư thái và dễ chịu. Bãi biển rất vắng. Tôi bỗng có nhã hứng dạo chơi dọc bãi biển nên để lại sách và dép trên ghế tắm nắng rồi đi về hướng tay phải của khu nghỉ.

 

Tôi cứ đi vô định. Cố để cho đầu óc trống rỗng, không nghĩ về một điều gì đó cụ thể. Tôi không thể nghĩ thêm về Mark. Tôi sẽ khóc mất.

 

Chẳng để ý thời gian nhưng có lẽ là tôi đi bộ đã khá lâu vì tôi đã bắt đầu thấy mỏi. Tôi ngồi phệt xuống bờ cát mịn màng, để nước biển mơn trớn bàn chân, để gió vấn vương đôi bờ vai trần và hất tung làn tóc dài mềm mại. Khi không còn chịu được cơn khát nữa, tôi hướng lên khu nghỉ gần nhất. “Spice house at Cassia cottage since 1999”. Đây chẳng phải là nơi tôi ở trong chuyến thăm Phú quốc đầu tiên ư? (Khi đó tên Việt nam họ gọi là Nhà Tranh hương quế). Hồi đó khu vực này chỉ có Saigon Phú quốc, Tropicana, Cassia cottage và một vài khu nghỉ nho nhỏ. Giờ đã vô cùng sầm uất. 

 

Cassia Cottage đã “lột xác” hoàn toàn. Từ bốn phòng mái lá đơn xơ, một bãi đất rộng trống tơ hơ, giờ đã rất khang trang, bề thế. Ngoài cùng là một hàng ghế phơi nắng, kế đến là nhà hàng, quầy Bar, bể bơi, vườn cảnh và rất nhiều phòng ở hiện đại. Con đường vào cổng chính rộng rãi, sạch đẹp, không chỉ là một hàng gạch tạm đủ cho một người đi bộ theo trí nhớ của tôi.

 

Chiều ba mươi, tôi gọi ly vang trắng, đĩa mực chiên ròn và đĩa nem hải sản. Tôi không mang theo đồng hồ hay điện thoại nên cũng chẳng để ý giờ. Đi nghỉ sướng thế đó. Bạn có thể ăn, ngủ, chơi bất kỳ lúc nào theo ý thích.

 

-         Sophia, em…

Tôi giật mình quay lại khi ai đó gọi (đó là tên tôi tự đặt hồi làm bên Singapore)

-         Anh! Trời, Mark!

Một sự im lặng bao trùm. Chúng tôi nhìn nhau vài phút không nói lên lời.

-         Em…anh tưởng em về Hà nội rồi…em…

-         Em chỉ nói có chuyến bay vào sáng hôm sau

-         À…không phải em muốn tránh mặt anh sao? – Mark nhìn tôi với ánh nhìn trìu mến và vui vẻ hơn

-         Anh đã nghĩ vậy sao?

-         Anh…ờ thì anh tưởng em thực sự căm ghét anh đến vậy…

-         Em không thể - tôi bối rối nhìn xuống – những tưởng em sẽ không bao giờ muốn gặp lại hay nói chuyện với anh nữa…nhưng em…

-         Em sao? -  Mark nhìn tôi vẻ chờ đợi

-         Em tưởng anh về Úc rồi? – tôi đánh trống lảng

-         Sau tối đó gặp em, anh muốn quay lại đây suy nghĩ. Anh biết em luôn yêu nơi này…và anh…

Anh vẫn nhớ. Thậm chí anh còn nhớ Cassia Cottage là kỷ niệm đầu tiên của tôi mười hai năm về trước.

- Anh có thể ngồi cùng em không? Em cũng ở đây à?

- Không, em chỉ tình cờ ghé qua 

 

Anh lặng lẽ ngồi xuống ghế đối diện, nhìn tôi không chớp mắt. Cứ như cả thế kỷ rồi chúng tôi chưa gặp lại nhau. Hai đứa ngồi im lặng. Bối rối nghoảnh đi khi bắt gặp ánh mắt của người đối diện. Sao lại có thể như trong tiểu thuyết lãng mạn vậy. Đúng là Mark bằng xương bằng thịt đang ở bên tôi. Ánh mắt dịu dàng và đằm thắm ấy vẫn làm tôi lao đao như ngày nào.

 

-         Em mời anh một ly nhé?

-         Anh là chủ nhà mà - Anh cười hiền hậu

Anh cũng gọi một ly vang trắng rồi lặng yên nhìn xa xăm ra biển

-         Anh tưởng hôm nay là ngày ba mươi Tết? Em làm gì ngoài này một mình vậy?

-         Em đi nghỉ.

-         Không còn là cô gái truyền thống của gia đình nữa sao?

-         Về già đổi tính mà anh – tôi cười cười, cố xóa tan không khí ngượng ngập giữa hai đứa

-         Em vẫn trẻ đẹp như ngày nào – anh nhìn sâu vào mắt tôi và nói – với anh, em luôn là Sophia bé bỏng, em biết mà…

 

Anh hơn tôi hai tuổi. Vẻ bề ngoài giống như phải hơn mười tuổi vì tôi luôn được khen là trẻ hơn tuổi thực. Vẻ mặt nghiêm túc khiến anh càng già hơn trước vẻ tinh nghịch và luôn hớn hở của tôi.

 

-         Lâu rồi không còn ai gọi em tên đó nữa.

-         Những người yêu hoạt hình. Giờ em thành Công chúa rồi (Công chúa Sophia trong loạt phim “Sophia the first” khởi chiếu từ năm 2012, một cô bé tám tuổi bỗng dưng trở thành Công chúa khi mẹ cô tái giá với Nhà vua)

 

Gặp lại anh ở đây tôi rất vui! Giá chưa từng có gì xảy ra, tôi lại có thể nũng nịu, nói những lời ngọt ngào yêu thương. Tôi thực sự nhớ những phút say đắm ấy. Đất trời bao la, sóng biển rì rào. Thủy triều đang rút. Trời đã tối từ khi nào. 

 

---

Tôi tỉnh dậy không muộn hơn mọi sáng là mấy. Đêm qua tôi đón giao thừa cùng Mark. Lâu rồi tôi mới thức khuya vậy. Tôi là người điều độ. Tôi luôn đi ngủ trước 23:00 và dậy vào 06:00 sáng hàng ngày.

 

Bữa sáng ngày Tết có thêm món bánh tét và nồi thịt kho tàu truyền thống của khu vực phía Nam nhưng tôi không hề động đến. Lấy một lát bánh mỳ, bơ, trứng ốp la và một bát cháo trắng trứng muối. Tôi ra hiên chọn bàn cuối cùng thong thả ngồi ngắm biển. 

 

Chẳng có gì phải vội. Ngày đầu tiên của Năm mới. Ngày mà tôi quyết định sẽ bắt đầu sống đúng với bản chất và mong ước của mình. Tôi sẽ không chạy theo để cố làm hài lòng mọi người, để chứng tỏ rằng mình không ích kỷ. Dù tôi có làm bao nhiêu thì chỉ một việc tôi không làm thôi cũng có thể phá vỡ hình ảnh tốt về tôi. 

 

Suốt 38 năm tôi đã ăn Tết theo kiểu truyền thống mà bố mẹ mong muốn. Chỉ có năm nay tôi mới ăn Tết theo kiểu riêng mà tôi thích. Kết quả là, khi tôi gọi điện chúc mừng Năm Mới, sau giao thừa, mẹ đã mắng mỏ ngay vào những giây đầu tiên rằng tôi thật không phải khi để bố mẹ ở nhà lo lắng mọi việc, rằng mọi người ở quê sẽ nhắc chuyện này mãi vì không có lý do gì mà tôi lại có thể đi nghỉ vào những ngày này (dù rằng tôi đã phải nói tránh đi là tôi kết hợp đi công tác), rằng anh trai tôi vừa gọi về và không hài lòng chút nào với hành động nông nổi của tôi...

 

Tôi chưa quyết liệt đến mức dám bỏ máy nhưng tôi đã gần như không nghe những lời tiếp theo. Mẹ thậm chí còn chưa chúc Tết tôi. Tôi không cãi hay nói lại bất cứ gì cho đến khi mẹ bảo thôi nhé và dập máy trước khi tôi kịp chào.

 

Thật lạ, tôi không buồn phiền hay tức tối (không biết có phải vì Mark đang ở bên tôi). Thay vào đó, một cảm giác thật nhẹ nhõm tràn ngập trong tôi. Tôi quyết định rằng mình không cần phải gắng sức làm hài lòng mọi người nữa. Tôi cần phải yêu thương mình hơn. Tôi sẽ tìm một căn hộ và chuyển ra ngoài khi trở lại Hà nội.

 

Tôi còn chưa ăn xong bữa sáng đã thấy Mark đến. Trông anh vui tươi và trẻ trung hẳn với chiếc áo phông màu vàng chanh, quần sóc trên đầu gối màu sẫm và chiếc ba lô du lịch màu xanh nước biển.

 

-         Em sẵn sàng cho một cuộc dạo chơi quanh đảo chưa?

-         Anh dậy sớm vậy? Anh uống trà hay café?

-         Tùy em

-         Vậy em mời anh ly nước quả - tôi trêu trọc anh

 

---

Chiếc taxi Mark thuê đã đợi sẵn bên ngoài. Tôi đưa cho bác tài một phong lì xì, Mark chúc Tết bác tài bằng một câu tiếng Việt. Bác tài cười toe vui mừng vì ngày đầu năm may mắn.

 

Diện tích đảo không quá lớn. Tôi thì thích đi xe máy hơn nhưng Mark nhất định không chịu ngồi sau tôi trong khi anh vẫn chưa thể điều khiển thành thạo một chiếc mô tô. Địa điểm đầu tiên tôi chọn là Bãi Sao. Vào thời khắc gần như không bóng người. Hàng quán chẳng có ai, khách du lịch cũng chưa có nhiều vì nếu đi theo đoàn thì phải buổi chiều mới ghé qua đây trước khi về khách sạn.

 

Cũng là biển đó nhưng bãi Sao đẹp hơn rất nhiều, và rộng nữa. Tuy lối vào và hàng quán xung quanh thì tồi tàn nhưng thật đáng để đi cả một đoạn đường để đến đây. Cát ở đây trắng, mịn hơn. Tôi và Mark bỏ chân trần chạy đuổi theo những con sóng, cười đùa vui vẻ. 

 

Sau buổi nói chuyện cởi mở tối qua, chúng tôi quyết định sẽ là bạn tốt của nhau. Tôi cũng ngạc nhiên là mình có thể bình thản chấp nhận lời đề nghị đó. Tôi cứ nghĩ nó phải rất khó khăn vì hai chúng tôi vẫn còn vấn vương chuyện cũ với cái “hàng rào” cao vợi mà chúng tôi đã xây để ngăn cách mình suốt hai năm qua.

 

Tôi đã hiểu ra một điều, tôi cần phải để cho tình cảm của tôi “nghỉ ngơi” cho đến khi nó thật thoải mái, thật sẵn sàng với một mối quan hệ nghiêm túc, dù với Mark hay với bất kỳ một người đàn ông nào khác.

 

Thời gian còn lại trong ngày chúng tôi ra Đảo Hòn Thơm để ngắm san hô, thăm khu nuôi trồng thủy sản, ngọc trai và làng câu mực. Từ bến tàu mất ba mươi phút đi thuyền. Mark đã nhờ bác tài đặt thuyền riêng cho hai chúng tôi và hẹn bác tài khoảng bốn giờ chiều quay đón. Từ đây chúng tôi không cần xe nữa dù Mark đã hào phóng trả gấp ba giá thuê ngày thường cho nguyên cả một ngày.

 

Tôi chỉ lờ lờ trên mặt nước với ống thở nên cũng không ngắm được nhiều. Mark cố tình trêu tức tôi bằng việc thỉnh thoảng nổi lên mô tả phía dưới đáy mỗi khi anh tìm ra chỗ đẹp trong khu vực lặn của mình. Anh còn chụp ảnh và dứ dứ vào mặt tôi đầy thách thức “Lêu lêu cái người không biết lặn kia”

 

Thay bằng việc ăn trưa trên tàu như các đoàn bình thường, chúng tôi ghé vào làng câu mực và ăn Tết cùng người dân địa phương. Một bữa cỗ giản đơn hơn tôi tưởng gồm bánh tét, bánh tráng và thịt kho tàu, thêm một vài món phụ. Ở đây có món đặc biệt mà tôi ưa thích là đĩa mực hấp nguyên con (dân vùng biển thường để nguyên cả màng tím và mực phía trong, họ nói rằng trong mực có nhiều chất bổ). 

 

Sống ở Châu Á khá lâu nên Mark rất dễ hòa đồng. Anh thử tất cả các món dù quen dù lạ trong khi tôi cố hữu với món mực, cơm và rau, nhất định năm nay không bánh chưng hay bánh tét. Tôi đang cố đổi mới! (hay đúng hơn là chống đối)

 

Chúng tôi ở lại giao lưu với dân làng gần như cả buổi chiều. Họ nhiệt tình đến mức cứ cố chuốc rượu hai chúng tôi. Tiếc là họ đành thất bại vì cả hai đều luôn lắc đầu từ chối hay chỉ nhấp môi dù biết rằng thật không phải vào ngày đầu năm mới. 

 

Mark say sưa chụp ảnh và cố nói những câu tiếng Việt anh học được của tôi những năm về trước với lũ trẻ trong làng. Tôi thì không làm gì nhiều ngoài việc lặng lẽ ngồi hay đi theo anh, hưởng thụ một ngày đầu năm bình yên nơi vùng biển.

 

---

Tối mồng một Tết, sau khi đi đảo về Mark quyết định trả phòng bên Cassia cottage và đặt bên Paris beach khi biết có phòng hủy vào phút chót. Bốn ngày sau đó chúng tôi bên nhau cả ngày, cùng hàn huyên tâm sự, dạo biển, bơi hay giao lưu với cặp vợ chồng người Đan Mạch.

 

Mark yêu trẻ em và thích hoạt động. Virgil (ông bố) chỉ cười trừ và không hề ngại ngùng mỗi khi Sara (vợ anh), đả kích về việc anh ra bể bơi mà không bao giờ xuống nước. Người vui nhất và có lợi nhất là Betram. Nó có người chơi thường xuyên, giỏi và năng động hơn tôi nên không phải thỉnh thoảng chạy ra làm phiền mẹ nó khi đang kèm em trai tập bơi nữa.

 

Chúng tôi cùng nhau tìm và thử đồ ăn tại nhiều nhà hàng khác nhau xung quanh khu nghỉ. Gia đình Betram có vẻ vui hơn vì họ đã đi riêng với nhau gần năm tuần và ít giao lưu với khách nào khác trong khu nghỉ.

 

Buổi tối ngày mồng bốn, sau khi cho hai đứa nhỏ đi ngủ, Virgil và Sara ra khu nhà hàng giao lưu với chúng tôi. Vài chai bia và một đĩa lạc rang cùng những tiếng cười vui nhộn. Chúng tôi bàn luận về đủ thứ chuyện. Virgil cứ thắc mắc sao tôi, và những người giỏi như tôi (anh nói) không làm cách mạng để thay đổi chế độ một Đảng hiện tại. 

 

-         Tôi không có ý xúi bẩy nhưng theo những gì tôi biết và theo như cô chia xẻ thì xã hội một Đảng hiện tại có vẻ gò bó và không có đất cho những người trẻ tuổi tài năng – Virgil bình luận thêm sau khi đã cạn chai bia thứ ba. Sara đưa mắt ra hiệu với chồng giảm tốc độ uống. Có vẻ như anh chàng đã bị “cấm túc” nhiều ngày qua và đang lấy cớ giao lưu để “xả”

-         Chính trị phức tạp lắm. Tôi thực sự không quan tâm – tôi nói – miễn là đừng có ai xâm hại vào quyền lợi cá nhân của tôi – và cười

-         Với nhiều hạn chế từ Trung Ương, sao cô dám chắc là quyền lợi chính đáng của mình được đảm bảo – Virgil vẫn hào hứng nói

-         Mark, anh nói xem, với tư cách nhà tư vấn luật pháp, theo anh em có nên làm gì đó không nhỉ - tôi nháy mắt với anh

-         Theo tôi thì mỗi chế độ sẽ có những cái lợi và cái hại riêng – Mark lên tiếng sau khi tôi “đá bóng” sang cho anh – chế độ một Đảng cũng có cái hay của nó. Nó đảm bảo sự ổn định, ít gây ra nội chiến. Tuy chuyên chế và độc quyền nhưng nhìn chung người thân trong gia đinh sẽ không bị chia rẽ khi chọn các Đảng khác nhau – Mark cố tình đẩy hướng câu chuyện sang khía cạnh ít nghiêm trọng hơn

-         Anh chị không đi đâu ra ngoài khu nghỉ à? Đi thăm quan Đảo cũng thú vị lắm – tôi đột ngột chuyển hướng

-         Chúng tôi muốn đi lặn ngắm san hô, nhưng có hai đứa nhỏ đi có vẻ không tiện – Sara lên tiếng

-         Nếu anh chị không lo lắng quá, tôi và Mark có thể trông chúng hộ một ngày, được không Mark?

-         Tất nhiên rồi. Tôi và Betram cũng khá quen nhau rồi. Sophia thì có thể chăm lo cho Oslom (đứa nhỏ), nếu anh chị muốn – Mark phụ họa

-         Em muốn đi lặn à? – anh chàng ngại nước quay ra hỏi vẻ lưỡng lự - Liệu em có thể rời Oslom cả một ngày không?

-         Thế này đi. Chúng tôi sẽ đi cùng anh chị ra bến tàu Hòn Đồi Mồi, sau đó sẽ cho các cháu vào Vinpearl Land chơi và chờ ở đó. Khi nào anh chị về thì chúng tôi cùng đi ra đó và tất cả cùng về - Mark hào hứng đề nghị – Anh chị nghĩ sao?

-         Cảm ơn anh chị rất nhiều – Sara nhìn Virgil vẻ lưỡng lự – Tôi chỉ e Oslom sẽ không thể rời tôi nửa bước

 

Tôi chợt nhận ra một điều. Tôi và Mark đã quá nhiệt tình mà quên đi vấn đề mấu chốt. Chúng tôi mới chỉ quen nhau có vài ngày. Có cha mẹ nào dám gửi con cho người lạ mà đi chơi như thế, lại trên một đất nước hoàn toàn xa lạ. 

 

Tôi nghĩ đến Mai và hoàn toàn thông cảm với Sara. Dù khác nhau quốc tịch, màu da, các bà mẹ luôn giống nhau ở điểm họ luôn lo lắng cho những đứa con của mình và luôn sẵn sàng hy sinh nhu cầu cá nhân khi con mình còn nhỏ. 

 

Mai và tôi quen biết nhau lâu thế rồi mà nó còn chẳng dám gửi con cho tôi cả ngày đi chơi. Vậy nên, dù trông chúng tôi có đáng tin cậy thế nào, giỏi chơi với trẻ em thế nào trong mấy ngày qua, hai người họ cũng khó lòng đồng ý.

 

- À phải, chúng tôi vô ý quá. Thực tình là chúng tôi chỉ nghĩ cho anh chị mà chưa nghĩ cho bọn trẻ - tôi lên tiếng – Tôi nghĩ anh chị có thể cùng bọn trẻ đến Vinpearl Land chơi một chuyến, hoặc đơn giản đi các điểm thăm trên bờ. Các điểm thăm cũng gần nhau và không quá mệt.

- Vâng, cảm ơn lời gợi ý – Sara nhìn đồng hồ - giờ cũng muộn rồi, chúng tôi xin phép về xem lũ trẻ thế nào

 

Chúng tôi chia tay ai về phòng nấy. Mark tiễn tôi về phòng và ngập ngừng định nói gì lúc chia tay nhưng lại thôi. Tôi biết anh cũng có vẻ ái ngại khi nhận ra rằng chúng tôi đã quá đà trong chuyện vừa rồi. Cũng không có gì là nghiêm trọng. Nhưng chắc anh lại nghĩ tôi sẽ trách anh sao vô tư đến vậy. Anh là người quá nghiêm khắc với bản thân. Anh hay cả nghĩ.

 

- Đó là ý kiến của em mà – tôi an ủi - Em nghĩ họ hiểu thành ý của mình thôi

- Hy vọng vậy

- Chúc anh ngủ ngon!

- Em cũng thế. Em muốn ăn sáng lúc mấy giờ?

- Như mọi ngày 

 

---

Bữa cơm chia tay đã đến. Sáng mai tôi sẽ bay chuyến 11:20 về Hà nội. Mark bay về Sài gòn rồi nối chuyến qua Singapore sang Sydney. Muốn dành thời gian còn lại cho người bạn tâm giao của mình, chúng tôi không mời gia đình Betram. Chúng tôi chỉ qua chào và gửi cho hai đứa nhỏ món quà địa phương mà chúng tôi mua hồi sáng ở chợ Dương Đông. Betram là người quyến luyến nhất vì nhận ra rằng tuần còn lại sẽ phải lủi thủi một mình với quả bóng hay đáy bể. (Virgil có tham gia trò tìm vật đáy bể với cu cậu nhưng bằng cách đứng trên bờ ném đồ xuống. Mỗi khi nhặt được cu cậu sẽ phải bơi ra chỗ bố đứng để đưa đồ và tiếp tục chơi)

 

Sau bữa tối, tôi và Mark sang quán Bar khu năm sao Salinda ngay gần Paris beach. Chúng tôi cần chút âm thanh và sự sao nhãng với những thực khách khác xung quanh để cuộc chia tay không trở nên ủy mị. Dẫu rằng chúng tôi đã nhất trí là bạn bè thân thiết, nhưng tình cảm nam nữ đâu có thể rành mạch như vậy. Bao năm quen biết và yêu thương tha thiết. Tuần vừa qua hai đứa lại tìm thấy những giây phút vui vẻ và thoải mái bên nhau đến thế.

 

Trong một phút yếu lòng, Mark chợt nắm chặt bàn tay tôi, nhìn sâu vào mắt tôi và thì thầm “Sophia này, có cách nào khác không em? Anh…”

 

Tôi rùng mình, một “dòng điện” chạy dọc sống lưng. Tôi hiểu ý anh, tôi biết mình muốn nói gì vào lúc ấy, rằng tôi sẽ nhớ anh nhiều lắm, tôi ước gì thời gian có thể quay trở lại…nhưng sau một hồi yên lặng tôi lại nói “Em không biết Mark à. Chúng ta nên để vết thương lành hẳn. Em không muốn và không thể lại một lần hối tiếc”

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét